HTML clipboardƯớc vọng tiêu dùng cân bằng của người Việt
Khi Việt Nam mở cửa thị trường bán lẻ từ 1-1-2009 theo cam kết gia nhập WTO, người dân nước ta rất kỳ vọng và trông đợi vào sự lớn mạnh của các tập đoàn bán lẻ trong nước. Đó là phản ứng tự nhiên trước một ước vọng tiêu dùng cân bằng của người Việt.
Động lực dẫn dắt nền kinh tế
Hiện nay, hệ thống phân phối nước ta có hơn 9.000 chợ truyền thống, 250 siêu thị, 30 trung tâm thương mại, trên 1.000 cửa hàng tiện lợi, và hàng chục ngàn cửa hàng bán lẻ độc lập. Theo nghiên cứu của Bộ Công Thương, có khoảng 10% doanh số bán lẻ được giao dịch qua siêu thị, trung tâm thương mại, 40% qua chợ, 44% qua các cửa hàng bán lẻ độc lập và 6% do các doanh nghiệp sản xuất trực tiếp phân phối.
Trong các chỉ tiêu kinh tế, doanh số bán lẻ có mức tăng trưởng cao nhất, nếu trong giai đoạn 2000-2005, tổng mức bản lẻ cần tới 5 năm để doanh số tăng gấp 2 lần thì sau đó, chỉ cần 3 năm, doanh số bán lẻ năm 2008 đã đạt 975.000 tỷ đồng, gấp hơn 2 lần so với 475.380 tỷ đồng năm 2005. So với GDP, năm 2008, doanh số bán lẻ đạt trên 55 tỷ USD, bằng 54% GDP. Chính vì thế, Tập đoàn Điều tra thị trường AT Kearney đã đánh giá chỉ số phát triển bán lẻ toàn cầu (GRDI) của Việt Nam cao nhất trong số 30 nền kinh tế mới nổi trên thế giới. Mạng Nghiên cứu và Thị trường có địa chỉ tại www.researchandmarkets.com đã nhận định: Việt Nam là một trong các thị trường mới nổi thu hút nhiều nhất các nhà đầu tư vào ngành bán lẻ thực phẩm, đồ uống và rau quả do có mức tăng trưởng kinh tế cao, thu nhập của người dân có xu hướng tăng và nhất là niềm tin của người tiêu dùng đối với tương lại của nền kinh tế được củng cố khá vững chắc.
Trong hệ thống phân phối, các nhà bán lẻ Việt Nam cũng được đánh giá cao. Saigon Co.op và PNJ 5 năm liền được xếp vào danh sách 500 nhà bán lẻ hàng đầu châu Á, SJC được 3 năm, Sài Gòn Nguyễn Kim 2 năm. Tuy nhiên, nhìn ở góc độ đáp ứng tiêu dùng thì hệ thống bán lẻ nước ta vẫn còn điều gì đó bất ổn. Trận lụt cuối tháng 10-2008 ở thủ đô Hà Nội là một thí dụ cụ thể. Hàng tuần lễ sau khi nước rút, các nhà bán lẻ vẫn tỏ ra lúng túng và không có đủ rau xanh cung cấp cho thị trường. Đây chỉ là trường hợp hy hữu nhưng cũng cho thấy hệ thống phân phối và các nhà bán lẻ Việt Nam chưa sẵn sàng về quản lý và hàng hóa để phản ứng kịp thời trong những tình huống đặc biệt.
Trông chờ và kỳ vọng
"Người tiêu dùng Việt Nam trông chờ và kỳ vọng vào sự lớn mạnh của các tập đoàn bán lẻ trong nước" không phải là một câu nói khách sáo, đó là sự thực. Có điều, nó không xuất phát từ nỗi la các nhà phân phối trong nước sẽ bị đè bẹp khi mở cửa thị trường bán lẻ, mà chỉ phản ánh một nhu cầu tiêu dùng cân bằng. Các đại gia bán lẻ nước ngoài có ưu thế về công nghệ, nhân lực, tài chính và mối liên hệ với công ty mẹ, nhưng với khác biệt về văn hóa và mục tiêu chiến lược kinh doanh, họ không thể lấp đầy hết những nhu cầu, khát vọng tiêu dùng của người Việt. Vào các chuỗi siêu thị của Co.op Mart, Intimex, Fivimart hay Maxim Mart, Citimart, người dân vẫn được thỏa mãn đầy đủ những thói quen tiêu dùng truyền thống như cá bống kho, bát canh cá chua đóng gói, bánh chè lam, bánh tét, lọ tương cổ truyền. . .mà ở Big C, Metro hoàn toàn vắng bóng. Có thể nói, siêu thị, trung tâm thương mại của các nhà bán lẻ Việt Nam là cánh tay nối dài của chợ truyền thống, nhưng được nâng lên ở tầm văn minh thương nghiệp. Ta thử hình dung xem, nếu các tập đoàn bán lẻ nước ngoài trong ngành ăn uống thống lĩnh thị trường nội địa, thì người tiêu dùng trong nước sẽ buộc phải chấp nhận một khẩu vị mới, đó là đồ ăn nhanh MC Donal, gà rán Kentucky. . .đi kèm với thức ăn này sẽ là rượu ngoại, đồ uống có gas; và đi kèm với đồ ăn, thức uống này sẽ là nhạc rock, pop, jazz, là phim hành động. Bản thân đồ ăn, thức uống, nhạc, phim nói trên không xấu, nhưng nó làm thay đổi thói quen, thị hiếu, thậm chí tiến tới làm nhạt nhòa bản sắc Việt. Trong khi đó, rất nhiều nhu cầu, khát vọng tiêu dùng chính đáng của người dân bị bỏ qua. Hoặc là, nếu các nhà bán lẻ nước ngoài trong ngành thời trang, mỹ phẩm như Parkson, Zen Plaza, Diamond Plaza. . .độc diễn, thì người tiêu dùng trong nước gay go to, vì họ chỉ nhằm tới phân khúc thị trường trung, cao cấp. Hơn bao giờ hết, với thế mạnh bản địa, nhà bán lẻ trong nước có khả năng đánh thức hữu hiệu nhất bản năng tiêu dùng tiềm ẩn, khi còn trong giai đoạn phôi thai của người Việt.
Theo một lẽ đương nhiên, người tiêu dùng cũng hiểu rằng, sự mở cửa hệ thống phân phối thời gian qua đã đem lại những hiệu ứng tích cực đến các nhà bản lẻ trong nước. Các loại hình phân phối truyền thống gồm chợ, cửa hàng độc lập đang chuyển mình trong tổ chức không gian giao dịch, ứng dụng công nghệ thông tin, phát triển các dịch vụ hỗ trợ. Các loại hình phân phối hiện đại gồm siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tự chọn đã chủ động xây dựng hệ thống phân phối theo chuỗi, áp dụng công nghệ logistics, trang bị các thiết bị bán hàng, thanh toán, vận chuyển, kho dự trữ, sơ chế hàng hóa. . .nhằm vận hành hệ thống kho vận cho toàn bộ các khâu từ đặt hàng, lưu trữ, giám sát ch đến bán hàng, thống kê, dịch vụ sau bán hàng. Tuy nhiên, chừng đó là chưa đủ để hình thành nên các tập đoàn bán lẻ nội địa hùng mạnh, đủ sức làm lực lượng đối trọng một cách sòng phẳng với các đại gia bán lẻ nước ngoài trong việc khơi nguồn và thỏa mãn từng phân khúc thị trường, nhu cầu của người Việt.
Bàn tay nhà nước
Trong khi chưa có nhà bán lẻ nội địa "tầm cỡ", đủ sức làm chỗ dựa cho định hướng và phát triển thị trường thì lâu nay các nguồn vốn đầu tư, chính sách khuyến khích của nhà nước chủ yếu tập trung vào các ngành sản xuất, vì coi đó là cái gốc của phát triển kinh tế. Đã đến lúc nhà nước cần tác động vào khâu "hoạt" nhất là bán lẻ để thúc đẩy toàn bộ quá trình tái sản xuất xã hội. Bên cạnh việc cải tạo, nâng cấp, xây mới chợ, hình thành các khu thương mại tập trung (chợ đầu mối, kho bán buôn, trung tâm logistics. . .), phát triển các trung tâm đấu giá, sàn giao dịch hiện đại. . . thì nhà nước cần có chính sách hỗ trợ hình thành các tập đoàn bán lẻ lớn ở trong nước. Đó là tạo thuận lợi về mặt bằng xây dựng, nhập khẩu công nghệ, đào tạo nhân lực, hạ tầng công nghiệp thông tin, xây dựng và quảng bá thương hiệu. . .Các doanh nghiệp được chọn để hỗ trợ phát triển thành những tập đoàn bán lẻ lớn sẽ được tổ chức thành 3 nhóm chính:
Nhóm thứ nhất là doanh nghiệp phân phối chuyên ngành, được tổ chức dựa trên mối liên kết kinh tế theo chiều dọc giữa các kênh sản xuất và tiêu dùng. Đó có thể là các tổng công ty đảm nhiệm các cân đối quốc gia như xi măng, thép, vật tư nông nghiệp, xăng dầu, giấy, kính. . .
Nhóm thứ hai gồm các doanh nghiệp phân phối tổng hợp, được tổ chức liên kết theo chiều ngang trong mạng lưới, tạo thành trung tâm bán lẻ lớn dưới dạng tổng phát hành các loại hàng hóa nhằm phủ kín nhu cầu trên một địa bàn. Đó có thể là Hapro (Tổng công ty thương mại Hà Nội), Satra (Tổng công ty thương mại Sài Gòn). . .
Nhóm thứ ba là các tổ chức theo hình thức phân phối hiện đại gồm siêu thị, trung tâm thương mại, chợ đầu mối, sàn giao dịch. . .như Intimex, Phú Thái, Fivimart, Sài Gòn Co.op Mart, G7Mart. . .
Trong 3 nhóm trên, sự hỗ trợ của nhà nước không nên phân biệt giữa trong và ngoài quốc doanh mà cần dựa vào tiêu chí: Vị thế và khả năng chi phối, dẫn dắt thị trường của nhà bán lẻ.
Cùng với việc hỗ trợ sự phát triển của 3 nhóm bán lẻ nói trên, các cơ quan quản lý (Bộ Công Thương, Kế hoạch - Đầu tư, Tài chính) cần chủ trì phối hợp với các địa phương và các doanh nghiệp thuộc ba nhóm nhằm hoạch định chiến lược cho từng doanh nghiệp từng bước đưa các doanh nghiệp này trở thành các tập đoàn bán lẻ lớn, làm nòng cốt trong hệ thống phân phối hàng hóa trong nước, vừa kích hoạt phát triển sản xuất công nghiệp, dịch vụ, vừa thỏa mãn nhu cầu, cũng như khát vọng tiêu dùng của người dân Việt, sao cho phù hợp với truyền thống văn hóa Việt.
PV
Theo báo Khoa học & Phát Triển