HTML clipboard Cao nguyên Bolaven và lợi ích của VN
Việc VN tìm hiểu, lập chiến lược phát triển kinh tế vượt ra ngoài biên giới quốc gia, là điều khả thi, cần kíp và cực kì quan trọng cho sự phát triển bền vững trong tương lai. VN có dân số đặc biệt cao, thiếu đất, đang thiếu điện, phát triển sớm hơn Lào và Cambodia một chút, và có quan hệ vững chắc với họ. Trong khi đó họ đất rộng, người thưa, thiếu nhân lực, vốn và kĩ thuật (cả về nông nghiệp và công nghiệp) để phát triển, lại không có đường ra biển. Sự hợp tác kinh tế chặt chẽ của Đông Dương đem lại lợi ích cho cả ba nước.
Hiện nay, VN đang thiếu các chuyên gia có kiến thức và kinh nghiệm với các vấn đề địa kinh tế ở cấp khu vực (bán đảo Đông Dương, Đông Dương-Nam Trung Quốc). Bài báo đăng trên Tuổi trẻ này là một ví dụ về cả về tiềm năng của cách tiếp cận này, cũng như sự hạn chế tạm thời của các chuyên gia VN (cũng nên đọc và so sánh tính thực tiễn của nó với các phân tích địa chính trị - geopolitics truyền thống của một số nhà nghiên cứu Việt Nam). Sau đây là tóm tắt của bài báo và bình luận của tôi.
Tóm tắt:
Quan sát: từ 2004, sản lượng hàng hóa qua cảng Đà Nẵng ngày càng giảm so với cảng Quy Nhơn, và vì thế chi phí vận tải bị đội lên.
Nguyên nhân: Đà Nẵng không có một khu vực sản xuất nội địa rộng lớn ở phía sau như Tây Nguyên với cảng Quy Nhơn, dẫn đến cảng không có hàng mà chở.
Cơ hội:
Cao nguyên Bolaven của Lào (giáp với Quảng Nam-Đà Nẵng) có ba lợi thế đặc biệt: (i) chất đất màu mỡ hơn Đak Lak, có thể trồng café, cao su, hồ tiêu và các loại cây ôn đới; (ii) lượng mưa đặc biệt cao, tốt cho thủy điện, (iii) có mỏ bô-xít (quặng nhôm) lớn hàng đầu thế giới. Nhưng hiện cao nguyên này không có đường thông ra biển.
Từ Paksé (thủ phủ Sekong) đã có đường bộ nối đến biên giới phía Đông của Thái Lan. Từ điểm này lại có cả đường sắt và bộ dài hơn 500 km của Thái đi đến tận Bangkok.
Hai giải pháp:
mở 123 km đường trên đất Lào, đoạn từ cửa khẩu VN đến thủ phủ tỉnh Sekong, thành một trục đường từ cao nguyên Bolaven qua quốc lộ 14 đến Đà Nẵng. (Và xa hơn nữa, thông thẳng với Bangkok. Việc này sẽ làm cho Bolaven phát triển, và Đà Nẵng cũng sẽ hưởng lợi.
Nối đường sắt 500km xuyên Lào, tới Đà Nẵng để thu hút hàng hóa từ Bangkok, các tỉnh bắc Thái Lan và các tỉnh Bắc Cambodia.
Bình luận:
Thiếu số liệu cơ bản: diện tích có thể trồng cây công nghiệp (cao su, café, cacao, hồ tiêu), trữ lượng của mỏ bauxite và người khai thác hiện tại, ước tính tiềm năng thủy điện, địa hình (để xây dựng đường bộ và sắt) của cao nguyên Baloven.
Điểm yếu lớn nhất của phân tích này là nó xuất phát từ lợi ích cục bộ và tương đối nhỏ (tiền thu được từ dịch vụ vận tải và cảng biển của Đà Nẵng). Nó không tương xứng so với chi phí cho dự án mà nó đề nghị (xây và bảo dưỡng 123 km đường bộ và đặc biệt là 500 km đường sắt).
Đúng ra, vấn đề Bolaven phải được tiếp cận ở quy mô lớn hơn, là phát triển các lợi ích kinh tế của nó trong tương quan với miền Trung Việt Nam. Việt Nam có thể cùng với Lào tham gia khai thác Bolaven ở cả ba thế mạnh của nó.
Về thủy điện: VN hiện đang thiếu điện trầm trọng, và nguy cơ ngày càng tăng. Nguồn thủy điện của Việt Nam, vốn tập trung dọc theo sông Hồng và sông Đà, đang ngày càng phụ thuộc (vì các nước thượng nguồn sông Hồng đang gia tăng khai thác cho thủy điện và tưới tiêu). Trong khi đó, có thể khai thác thủy điện ở Bolaven mà không bị ảnh hưởng bởi các nước thượng nguồn (cao nguyên này là một phần thượng nguồn cung cấp nước cho sông Mekong).
Về cây công nghiệp: Hiện VN đang nằm trong số các nước đang dẫn đầu về xuất khẩu hồ tiêu, café, cacao, cao su. Trong khi đó, Lào lại chiếm vai trò rất khiêm tốn. VN có lợi thế tương đối về kĩ thuật canh tác, về nhân công thạo nghề trong các lĩnh vực nông nghiệp này. Dường như tiềm năng của Tây Nguyên đã bị khai thá triệt để cho các sản phẩm này. Trong khi đó, Bolaven có địa hình, khí hậu và thổ nhưỡng tương tự như Tây Nguyên lại hầu như chưa được khai thác. Các nhà đầu tư Việt Nam hoàn toàn có thể mở các đồn điền tương tự và đưa nông dân sang khai thác ở đây. Tất nhiên, vấn đề nông nghiệp sẽ rất nhạy cảm, cần có thỏa thuận giữa hai chính phủ.
Về bauxite: theo đánh giá mới đây của liên doanh giữa Ord River Resources và Công ty khai khoáng kim loại màu quốc tế Trung Quốc (CNMIM), thì trữ lượng bauxite ở đây lên tới 2.5 tỉ tấn. Liên doanh này đã đạt được các thỏa thuận béo bở, bao gồm 75% lợi tức khai thác trong một vùng 138km2, và tới 85% trên một vùng khác rộng 580km2. Giám đốc điều hành của Ord cho rằng mỏ này có tiềm năng là mỏ bauxite lớn nhất thế giới. Có vẻ như liên doanh này sẽ thành lập nhà máy luyện nhôm ngay tại chỗ để giảm chi phí vận tải quặng.
Dù vậy, để vận tải nhôm đã luyện từ Bolaven ra cảng biển vẫn là vấn đề khó khăn với họ, vì đường xuyên Á không đi qua khu vực này. Để xuất khẩu về Đông Á hay sang Mỹ, đi qua ngả miền Trung VN thay vì đi xuống vịnh Thái Lan sẽ tiết kiệm được rất nhiều cả đường bộ (chỉ khoảng 200 km) và đường biển (đỡ phải đi từ vịnh Thái Lan vòng qua eo Malacca ngược lên).
Cần nhắc thêm là VN cũng có mỏ bauxite lớn ở Tây Nguyên, với trữ lượng ước tính là từ 5,6 đến 8,3 tỉ tấn, đứng thứ 3 trên thế giới (sau Guinea và Úc).Có tin là Công ty Nhôm Trung Quốc (Chalco) đã kí với Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam vào tháng 12/2006 một dự án 2 tỉ USD để khai thác bauxite cùng với nhà máy luyện nhôm ở Dak Nong với công suất luyện 1.9 triệu tấn/năm. (Chỗ khác nói là 1.4 tỉ USD)Alcoa World Alumina của Mỹ cũng đã có bản ghi nhớ với Tập đoàn than và Khoáng sản VN về một dự án khác, cũng khai thác bauxite và luyện nhôm ở Dak Nong trị giá 1 tỉ USD (tỉ lệ 51/49)
Sưu tầm